PHAN
THANH GIẢN
Hàn Lâm Nguyễn Phú Thứ
Ông
Phan-Thanh-Giản, có tên chữ
là Tịnh Bá và Đạm, hiệu là Lương-Khê,
biệt hiệu là Mai-Xuyên, sinh vào giờ Thìn, ngày 12, tháng 10
thuộc Hợi, năm Bính Thìn tức năm 1796
dương-lịch, thuộc đời vua Cảnh-Thịnh
Nguyễn-Quảng-Toản (1792-1802). Con của Ông
Phan-Thanh-Xáng, tự Văn-Ngạn, hiệu Mai-Thư tiên
sinh, rất giỏi chữ nho, đến Vĩnh Long làm
thơ lại cho Nam triều, thưòng lãnh nhiệm-vụ
tãi lương-thực về Huế. Và con của Bà
Lâm-Thị-Phần (có sách nói tên Lâm-Thị-Bút, người
huyện Bảo-An).
Ông nội
của Ông Phan-Thanh-Giản là Ông Phan-Thanh-Tập tự
Đào-Ấn hiệu Ngẫu-Cư tiên sinh và Bà nội là Bà
Huỳnh-Thị-Học. Tổ tiên Ông là người
Trung-Hoa đến cuối đời nhà Minh mới sang
nước Việt-Nam, trước ở Bình-Định,
đến lúc Tây-Sơn nổi dậy, thân sinh Ông chạy
xuống Định-Tường, rồi đến xã
Bảo-Thạnh, quận Bảo-An,Tỉnh Bến-Tre
(Kiến-Hòa trước kia). Lúc Ông
được 7 tuổi, mẹ mất sớm,
được người cha gởi sang bên ngoại
ở làng Phú Ngãi, để ăn học vở lòng với
nhà sư Nguyễn-Văn-Noa, đến năm 1816.
Ông theo học
trường tỉnh Vĩnh-Long. Việc học-hành
của Ông lại gặp
trở ngại, vì cha bị vu cáo nên bị ở tù tại
Vĩnh-Long. Ông xin ở
tù thay cha, nhưng không
được chấp- thuận. Các quan thuở ấy
thấy Ông nhỏ tuổi mà là một đứa con
hiếu-thảo, lại có đức-hạnh và thông-minh,
nên các quan nâng-đỡ cùng khuyên Ông nên cố-gắng
học-hành để tiến thân.
Năm
Ất-Dậu 1825, Ông đâu Cử-Nhơn tại
Gia-Định và năm sau ra Huế thi Hội và thi Đình. Ông đậu
đệ tam tiến-sĩ đầu tiên tại Nam Kỳ
(khoa thi Hội
năm 1826 có khoảng 200 cống sĩ, nhưng kết
quả chỉ có 10 người đậu, gồm: 7
người ở
Bắc-Kỳ, 2 người
ở Trung-Kỳ và 1 người ở Nam
Kỳ là Ông được đứng vào hạng
thứ 3 trong số 10 người, cho nên được
gọi Ông là "Đệ Tam Giáp Tiến Sĩ ").
Sau đó, Ông
cưới vợ Cần-Giuộc, rồi được
bổ-nhậm chức Biên-Tu ở Hàn-Lâm-Viện kinh đô
Huế, vài tháng sau đổi ra Quảng-Bình. Rủi thay người
vợ trẻ ở Cần-Giuộc mất sớm vì
bịnh, nên Ông tục-huyền với Bà
Trần-Thị-Hoạch ở Quảng-Trị, sống
chung nhau chưa bao lâu, để báo hiếu với cha, Ông cho
vợ về Kiến-Hòa
để phụng dưỡng cha già. Người vợ
là người đức-hạnh nên buộc lòng hy-sinh
việc "xuất giá tùng phu", nghe lời chồng, cho
nên khi Ông tiễn đưa vợ hiền về Nam Kỳ đã
làm bài thơ kiệt-tác như sau:
Từ thuở vương xe mối chỉ
hồng,
Lòng
nầy tạc dạ có non sông,
Đường
mây cười tớ ham dong ruổi,
Trướng
liễu thương ai chịu lạnh lùng,
Ơn
nước nợ trai đành lỗi bận,
Cha
già, nhà khó cậy nhau cùng,
Mấy
lời dặn bảo cơn ly biệt,
Rằng
nhớ, rằng quên, lòng hởi lòng!.
Riêng bà
Trần-Thị-Họach, không những đồng-ý thay
chồng để báo hiếu, mà còn sẵn sàng muốn có
người hầu hạ cho chồng khi bà xa vắng, nên
dẫn người tỳ thiếp tên Thịnh để
giúp chồng, bị Ông quyết liệt từ khước
và bảo người tỳ thiếp trở về, Bà
Thịnh cảm cái nghĩa của Ông, nên về sau không
lấy chồng, mà ở với Bà Hoạch cho tới già
tại làng Bảo Thạnh, quận Bảo-An, tỉnh
Bến-Tre.
Ngoài ra, khi Ông
ra làm quan không bao giờ tỏ ra kiêu-hãnh "áo gấm
về làng" bằng cách mỗi lần trở về quê
thăm lại các quan ở Vĩnh-Long, thăm các thầy,
thăm các bạn lúc nào nhã-nhặn lễ phép, không
phô-trương ta đây là quan lớn ở
triều-đình, Ông mặc áo như người
thường dân. Đời sống Ông rất mực-thước,
giản-dị, thanh-liêm, Ông dành nhiều thì giờ cho
công-vụ và đọc-sách làm vui, cũng vì thế trong 41
năm làm quan, ít khi trở về thăm lại
quê-hương của Ông, có lẽ vì đường sá quá
xa xôi, việc nghỉ phép khó-khăn, đặc-biệt có
lần về nhà cư tang cha vào năm 1843 và ngược
lại bà Hoạch cũng thỉnh-thoảng mới ra
thăm Ông tại nhiệm-sở.
Về
đường quan lộ của Ông rất thăng
trầm trong nhiều chức vụ qua các lãnh vực khác
nhau, trải qua 3 triều đại: Minh-Mạng,
Thiệu-Trị và Tự-Đức, xin trích dẫn như
sau :
Giai-đoạn
1826-1859, Ông lận-đận, thăng-trầm trên
đường hoan lộ nhiều lần, ví như tháng 8 năm 1826 thuộc vua
Minh-Mạng thứ 6, Ông giữ chức Biên Tu ở Hàn Lâm Viện, rồi được thăng
chức Lang Trung
Bộ Hình, kế đến Tham Hiệp ở Quảng-Bình, quyền
Hiệp-Trấn Nghệ- An và
sau đó làm Hiệp-Trấn Quảng-Bình. Năm sau tức
1827 Ông được về triều-đình để
nhận chức Phủ-Doãn Thừa-Thiên, Ông được
vua Minh-Mạng chú-ý vì có nhận-định chánh-trị
sắc-bén và già dặn, nên ít lâu sau được thăng
làm Thị-Lang Bộ Lễ tức làm việc tại
Nội-Các và kế đến lại tái nhậm chức
Hiệp-Trấn Quảng-Bình lần thứ hai đến
năm 1831 Ông bị thuyên-chuyển về Quảng-Nam để dẹp
cuộc khởi-loạn của dân-tộc thiểu số
miền sơn cước. Cuộc chinh phạt đó, Ông
gặp khó-khăn vì là quan văn, nên xem như thất bại,
cho nên Ông bị giáng chức lần thứ nhứt.
Rồi, Ông từ một thuộc viên của sứ bộ
sang Hạ-Châu (Singapore), lại thăng lên Hàn-Lâm
Kiểm-Thảo Sung Nội-Các Hành-Tẩu, đến
năm 1833 được thăng Viên Ngoại-Lang Bộ
Hộ, quyền ấn, Phủ Thừa-Thiên, rồi
Hồng-Lô Tự-Khanh và cuối năm này, Ông
được cử làm Phó Sứ sang Tàu, sau khi trở
về được thăng chức Đại-Lý
Tự-Khanh để coi việc Bộ Hình và
được sung vào Cơ-Mật-Viện
Đại-Thần. Sau đó, vì nhờ tài ngoại giao, nên
Ông được khen ngợi và lãnh chức
Kinh-Lược Sứ Trấn Tây (Cao-Miên), rồi trở
về sung chức Bố-Chánh Tỉnh Quảng-Nam, quyền
ấn Tuần-Phủ Quan-Phòng. Vào tháng 5 năm 1836 thuộc
vua Minh-Mạng thứ 7, nhà vua muốn ngự du Ngũ-Hành
Sơn ở Quảng-Nam, Ông dâng sớ cản ngăn
đại lược như :"Nhà vua đi tuần hành,
dân trong hạt chẳng vui mừng, nhưng nay khoảng tháng
4, tháng năm mùa
hạ, mùa lúa không được tốt, lại
đang lúc thời tiết cấy cày, trồng trọt,
nếu dân lo cung đón nhà vua thì được việc này,
mất việc kia.Nay xin tạm đình để dân
dốc sức vào việc ruộng nương... "Lá sớ
của Ông làm vua tức giận và nghi các quan ở
Quảng-Nam làm việc bê-bối, nên vua cử Ông
Vũ-Duy-Tân đến điều-tra hư thật. Ông này
lại nịnh hót đặt điều nào: Dân chúng
đang mong vua đến, các quan nhũng lạm...
Vì thế, Ông
bị nịnh thần dèm xiển, nên bị giáng chức
nặng-nề, làm phận sự một người quét
dọn bàn ghế tại tỉnh đường
Quảng-Nam và nhà vua cũng bãi bỏ cuộc ngự du
Quảng-Nam. Tuy nhiên, Ông không than van, đến khi vua
hiểu được lòng của Ông, thì được
bổ nhậm chức Đô-Sát Viện Ngự-Sử, Sung
Cơ Mật-Viện Đại-Thần.
Đến
năm 1843 thuộc vua Thiệu-Trị thứ 3, có một
luồng khí bạch vắt ngang trời, vua xuống
chiếu cầu lời trực ngôn, Ông dâng sớ chỉ
trích khéo vua và tố cáo sự thối-nát hành-chánh
địa-phương, đồng thời Ông
đề-nghị biện-pháp cải-thiện, Ông
được vua Thiệu-Trị khen ngợi. Vua
Tự-Đức lên ngôi
bổ Ông làm Thượng-Thơ Bộ-Lại,
đến năm Tự-Đức thứ hai, Ông
được cử làm Giảng Quan ở tòa Kinh-Diên mới
thiết-lập và hai năm
sau được cử Ông làm Phó Sứ Lãnh-Tuần
Phủ Gia-Định kiêm chức Lãnh Đốc các
đạo Vĩnh-Long và Định-Tường, Biên Hoà,
An-Giang và Hà-Tiên (Trong khi Ông Nguyễn-Tri-Phương làm Nam
Kỳ Kinh Lược Chánh Sứ). Trong chức vụ
này, Ông lúc nào
cũng nghĩ đến ích nước
lợi dân, nên Ông lại dâng
sớ điều-trần để cải-tổ,
được vua chấp thuận và khen-ngợi.
Năm 1853, Ông
được gọi vể triều để lãnh
chức Hiệp-Biện Đại-Học Sĩ Lãnh
Thượng Thơ Bộ Binh. Tháng chạp năm 1856
thuộc Tự-Đức thứ 9, Ông được
cử Tổng-Tài Quốc-Sử để soạn bộ
Khâm-Định Việt-Sử Thông-Giám Cương-Mục. Nước
Pháp và Tây Ban Nha liên minh đánh Việt-Nam, gồm 14
chiếc thuyền chở 3000 quân dưới quyền
chỉ huy của Rigault de Genouilly, ngày 24-7 năm Mậu
Ngọ 1858 đến đánh Đà-Nẵng, triều
đình cử Ông Nguyễn-Tri-Phương chống giữ,
quân giặc thấy khó chiếm, bèn bỏ ý định
đánh Huế, quay vào Gia-Định năm 1959 để
đánh chiếm thành Gia-Định sau hai ngày giao tranh,
chiếm được hơn 80.000 ký thuốc súng, 200
khẩu đại bác và một số tiền điếu
rất lớn. Các quan bày tỏ lập-trường về
việc chiến hay thủ, Ông dâng sớ bàn đại
lược như sau : "Thiên hạ đất rộng,
công việc rất nhiều, ở chỗ việc
nhiều, cai trị chỗ đất rộng, cốt làm
cho yên mà thôi. Theo sức người mà dạy, không khó
nhọc mà thành công, noi phép mà cai trị, quan lại quen mà dân
yên, cho nên lợi không gắp trăm thì không đổi phép,
công mà không gắp mưu thì không đổi đồ dùng.
Làm cái kế ngày nay cốt nhứt nuôi dân chăm cày
cấy, nuôi lính đủ ăn, lưu ý như thế thì
sức dân được thư thả mà quân có chỗ
dạy, sức đất không bỏ phí mà lương có chỗ
ra, quân giỏi, lương đủ thì như nước
chảy cuồn cuộn không hết, thì hoặc đánh hoặc giữ, không việc gì là không nên, đối
với việc dân yên nước thịnh, may ra bổ ích
đôi chút ..." Vua
Tự-Đức khen rằng : "Lời nói đều có
cốt yếu, bọn tân tiến không thể ví nổi,
chỉ nên thực lòng cố sức giúp trẩm,
đời sau chắc có tiếng khen". Kế
đến : Ngày 25-2-1861 thành đồn Kỳ-Hòa (Chí-Hòa) thất
thủ em Ông Nguyễn-Tri-Phương là Nguyễn-Duy tử
trận, ông Phạm-Thế-Hiển bị thương
nặng mấy hôm sau thì chết, riêng Ông
Nguyễn-Tri-Phương cũng bị thương
phải bỏ đồn rút quân về Biên-Hòa. Ngày 12-4-1861
Page hạ thành Mỹ-Tho; ngày 9-9-1861 Đề Đốc
Bonard thay Charner chiếm thành Biên-Hòa và ngày 28-3-1862 Bonard
chiếm thành Vĩnh-Long. Trước tình thế
nguy-ngập, vua Tự-Đức cử Ông và Ông
Lâm-Duy-Hiệp vào Nam-Kỳ để thương-thuyết
hầu tìm cách cứu vãn tình thế, cuộc
thương-thuyết diễn ra tại Sài-Gòn, có
Đô-Đốc Bonard đại-diện quân Pháp và
tướng Palanca đại-diện Tây-Ban-Nha (Y Pha Nho) .
Kết-quả, bắt buộc phải ký hòa-ước vào
ngày 5-6 dl
năm 1862 nhằm ngày 9 tháng 5 âl năm Nhâm-Tuất, quân
giặc ở thế thượng phong, gồm 12 khoản,
trong đó những khoản làm cho dân-tộc chúng ta khổ
tâm như:
Khoản 3:
Nhường cho Pháp các tỉnh: Biên-Hòa,
Định-Tường, Gia-Định và đảo
Côn-Nôn. Người Pháp được đi lại trên sông
ngòi Nam-Kỳ.
Khoản 5: Người Pháp và
người Tây-Ban-Nha được buôn bán ở
Đà-Nẵng, Đà-Lạt
và Quảng-Yên.
Khoản 8: Nước Đại-Nam
tứcViệt-Nam phải trả 4 triệu đồng
chiến phí trong hạn 10 năm...
Hòa-ước
Nhâm-Tuất ký xong, vua Tự-Đức và các triều không
hài lòng và chủ trương : "Việc nhường
đất, bồi tiền như thế không hợp lý, nhưng
các điều ước mới định mà cãi nghị
ngay thì họ sẽ không đồng ý". Ngoài ra, vua
Tự Đức không bắt tội Ông Phan-Thanh-Giản mà
còn cử Ông làm Tổng-Đốc Vĩnh-Long để
từ từ thương chước để chuộc
lại lổi lầm trước kia. Tháng 11-1862 Ông
Phan-Thanh-Giản yêu cầu Pháp trả lại Vĩnh-Long,
nhưng Pháp cho hay, chỉ trả lại khi nào Ông
Quản-Cơ Trương-Định thôi đánh Pháp.
(Bởi vì, khoảng thời gian trước và sau khi ký
hòa-ước Nhâm-Tuất cho đến mất trọn 6
tỉnh thuộc Nam Kỳ, các sĩ phu và dân chúng thuộc 6
tỉnh (Nam Kỳ) rất uất hận nổi lên
chống cự giặc ngoại xâm, dầu biết võ khí
thô sơ nhưng với lòng yêu nước nồng nàn cao
độ họ đã làm cho quân Pháp điên đảo,
trong số những người cầm đầu lúc
bấy giờ có các Ông : Trương-Định,
Nguyễn-Trung-Trực, Nguyễn-Hữu-Huân
(Thủ-Khoa-Huân), Võ-Duy-Dương tức
Thiên-Hộ-Dương, Đức Cố Quản Trần-Văn-Thành
.v.v.).
Sau đó,
đề cử sứ bộ sang Pháp và Tây Ban Nha (Y Pha
Nho) để xin chuộc
lại gồm có: Chánh sứ toàn quyền Ông
Phan-Thanh-Giản, Phó sứ là hai Ông Phạm- Phú-Thứ và
Ngụy-Khắc-Đản, còn Ông Trương-Vĩnh-Ký làm
thông ngôn. Để
người Pháp giúp
phương tiện cho
sứ bộ, triều đình
Huế lấy cớ là
để đáp lễ Pháp Hoàng đã phái người
đến chúc mừng vua Tự-Đức nhân dịp ký
hòa-ước 1862. Người Pháp bằng lòng cho
mượn tàu Européen và cử Aubaret, Rieunier đi theo
hướng dẫn, nhưng phía Việt-Nam phải trả
mọi phí tổn. Sau 2 tháng 7 ngày trên tàu, phái đoàn mới đến
nước Pháp, được đón rước rất
trọng thể và mãi đến ngày 7-11-1863 được
vào bệ kiến vua Napoléon Đệ Tam tại
điện Tuileries theo nghi lễ ngoại giao thật long
trọng. Ít hôm sau, bộ ngoại giao Pháp mời sứ
bộ tới và hứa sẽ nghiên-cứu rồi sửa
đổi lại hòa-ước 1862 và sẽ ký một
hòa-ước mới. Ông Phan-Thanh-Giản tuyên-bố
đại lược rằng: "Sứ bộ
Việt-Nam xin chuộc 3 tỉnh Miền Đông và
Việt-Nam sẽ trả mỗi năm 2 hay 3 triệu
hoặc 40 triệu một lần. Người Pháp có quyền
cư trú tại 3 hải cảng để tự do buôn
bán, đồng thời Việt-Nam nhượng cho Pháp
hải cảng Sài-Gòn" Chánh Phủ Pháp chấp-thuận
soạn thảo hòa-ước mới để thay thế
hòa-ước 1862 trước kia, đồng thời trao
cho sứ bộ Việt-Nam trước khi lên
đường sang Tây-Ban-Nha. Bởi vì, nước Pháp lúc
đó đã thâm lủng 972 triệu
quan Pháp, nên vua Napoléon lẫn Tổng-Trưởng
Tài-Chánh đều chủ trương trao lại đất
choViệt-Nam để
lấy tiền. Do vậy, sứ bộ do Ông
Phan-Thanh-Giản thành-công, còn được đưa
đi xem các nơi tại Pháp và Tây-Ban-Nha (Y Pha Nho) rất
văn-minh của xứ người.Ngày 24-3-1864, sứ
bộ về đến Sài-Gòn. Vua Tự-Đức và
triều thần đều vui mừng. Vua
Tự-Đức bèn phong Ông làm Thượng Thơ Bộ
Lại như cũ. Nhưng thực tế, triều
đình Huế đã mừng hụt, vì phe thực-dân đã
vận-động để chống lại việc cho
chuộc đất, đứng đầu là các nhân
vật thuộc bộ hải-quân và thuộc địa
như: Chasseloup Laubat, Bonard, De La Grandière... vì thế vua
Napoléon đổi ý không cho chuộc lại đất. Tháng
2-1865, Aubaret tới Huế cho hay không có hòa-ước
mới và yêu cầu vua Tự-Đức cho trả tiền
chiến phí, đồng thời
phải cấm nghĩa-sĩ chống Pháp. Như
thế, việc chuộc đất hoàn-toàn thất bại
vì kẻ mạnh trở mặt, muốn thế nào cũng
được, làm cho Ông Phan-Thanh-Giản lại bị vua
Tự-Đức tức giận cách lưu. Đây là
lần Ông bị giáng chức thứ sáu, tội nghiệp
cho Ông lúc này đã 70 tuổi. Sau đó, dã tâm của giặc
Pháp càng ngày càng rõ rệt là muốn nuốt trọn Nam
Kỳ lúc bấy giờ có 6 Tỉnh, các
lực-lượng nghĩa-sĩ chống giặc
ngoại-xâm nổi lên đánh phá khắp nơi.
Trước tình thế đó, Vua Tự-Đức lại
cử Ông Phan-Thanh-Giản vào Nam, vì nghĩ rằng
người Pháp đã biết Ông, với chức Hiệp
Biện Đại Học Sĩ Bộ Hộ,
Thượng Thơ Sung Kinh Lược Sứ thuộc 3
Tỉnh An-Giang, Vĩnh-Long và Hà-Tiên. Ông xin từ chức vì
cớ tuổi già, nhưng không được vua chấp thuận
và trước khi đi Ông có tâu rằng: "Chánh sách
của Ông là luôn luôn tuân đúng theo hòa-ước". Vua
Tự - Đức cũng ngỏ ý: "Muốn hoà-bình cho
dân-tộc được yên ổn, nhưng không nên vì
lẽ ấy mà khuất-phục tình hình một cách thụ
động". Về phía thực-dân Pháp, De La Grandière (De
Lagrandière?) đã thảo kế-hoạch đánh chiếm
luôn ba tỉnh Miền Tây (Nam Kỳ). Ngày 15-6-1867, De
Lagrandière rời Sài-Gòn xuống Vĩnh-Long với 17
chiến hạm và hắn nhờ Cố Dương
đưa thơ mời Ông Phan-Thanh-Giản xuống soái hạm
để cho biết lý-do động binh của hắn.
Ông và Án Sát Võ-Doãn-Thanh cố-gắng thương-thuyết,
nhưng bọn thực-dân đã quyết-tâm cướp
nước, thì làm sao còn thương thảo
được, hai Ông hoản binh, hứa sẽ nộp
thành với điều-kiện yêu cầu đừng sách
nhiễu dân và tiền với lúa trong kho vẫn phải
để Việt-Nam nắm giữ. De La Grandière ưng
thuận, nhưng khi hai Ông trở về thành vào ngày
20-6-1867, thì thành Vĩnh-Long đã bị quân Pháp chiếm. Sau
đó, đến thành An-Giang mất ngày 22-6-1867 và thành
Hà-Tiên cũng bị quân Pháp chiếm luôn vào ngày 24-6-1867 (Theo
sách Việt-Nam Sử Lược của Ông
Trần-Trọng-Kim viết: "Ông
Phan-Thanh-Giản bảo các quan đành chịu nộp thành
cho khỏi sự tai hại" nhưng không thấy
dẫn chứng dựa theo tài-liệu nào? Chỉ thấy
trong quyển La Geste Française en Indochine của Cura Taboulet
tập 2, trang 518-519, đã dịch ra và in trong quyển
quân-sự tập 3 của BTM do Ông Pham-Văn-Sơn biên soạn viết: Ông Phan-Thanh-Giản
viết thơ buộc Tổng Đốc An-Giang và Hà-Tiên
hạ vũ khi đầu hàng. "Nếu cần xin xem
quyển Nguyễn-Đình-Chiểu về tác-giả và
tác-phẩm trang 672" ).
Sau đó, Ông
Phan-Thanh-Giản lấy tiền lúa nộp một phần
cho Pháp để thanh-toán tiền bồi thường
năm đó, rồi Ông ra sống tại một ngôi nhà
tranh ở ngoài thành Vĩnh-Long. Chính tại nơi đây,
Ông quyết-định chấm dứt cuộc đời
của Ông. Có lẽ đó là lối thoát duy nhứt của
Ông sau khi Ông đơn phương nộp thành trì cho Pháp mà
không có sự ưng-thuận của triều đình,
nhứt là trước đó vua Tự-Đức đã
đặt hy-vọng bảo-vệ thành trì vào tay Ông. Ông
đã hiểu mình phải làm gì, bởi vì thân làm
tướng giữ thành mà để mất thành là một
trọng tội, cho nên Ông tự xử lấy mình. Ông
xếp tất cả áo mão và các tờ sắc-phong kèm theo
tờ sớ chịu tội với triều đình
rồi Ông bắt đầu tuyệt thực.
Sự
tuyệt thực của Ông có ý-nghĩa là một biện
pháp "ung dung tựu nghĩa" tức là bình-tỉnh
đón nhận cái chết để đạt
được nghĩa lớn tức là đền nợ
nước. Các con cháu quì lạy khóc lóc nhưng Ông đã
quyết không ai ngăn cản được. Ông vẫn
bình tỉnh và sáng suốt khuyên con cái lo học-hành, không
được làm việc cho Pháp, đồng thời bảo con cháu lo tang ma thật
giản dị và Ông tự tay viết di bút để
đề mộ bia cho Ông gồm 24 chữ Hán, viết thành
3 hàng được phiên âm như sau :
"Minh tinh
thỉnh tỉnh nhược vô ứng thư,
Đại-Nam hải nhai lão
thư sinh tính Phan chi cửu.
Diệc dĩ thử chí
mộ".
nghĩa là: Xin
bỏ tấm triệu, còn nếu không chịu bỏ thì
chỉ nên viết: "Linh cữu của người
học trò già họ Phan ở bãi biển nước
Đại-Nam" mộ chí cũng đề như
thế.
Đồng
thời Ông làm thơ tuyệt mạng:
Thời trời, lợi đất, lại
người hòa,
Há
dễ ngồi coi phải nói ra.
Làm
trả ơn vua, đền nợ nước,
Đành
cam gánh nặng ruổi đường xa.
Lên ghềnh
xuống thác thương con trẻ,
Vượt
biển trèo non cam phận già.
Cũng
tưởng một lời an bốn cõi,
Nào hay
ba tỉnh lại chầu ba!
Và Ông tuyệt
thực suốt 17 ngày mà không chết để chờ
quyết định của vua Tự-Đức. Sau cùng,
vào lúc nửa đêm mùng 4 rạng mùng 5 tháng 7 năm Đinh
Mão 1867, Ông hướng về phương Bắc nơi có
vua Tự-Đức để lạy 5 lạy và
trước sự chứng kiến đau lòng của các
con cháu, rồi Ông uống á-phiện với dấm thanh
để tự vận. Lúc đó có nhiều người
quan Pháp kính nể việc làm của Ông, bác sĩ
hải-quân Pháp là Le Coniat đã tận lực
cứu chửa,
nhưng không cứu Ông được, nên
phải trút hơi thở cuối cùng thượng thọ
71 tuổi và được các quan lớn nhỏ ở
lục tỉnh cùng thân nhân bằng cố hữu về
đông đủ để chịu tang và các con cháu
đưa về an táng tại làng Bảo-Thạnh, quận
Ba-Tri (Bến-Tre) đúng như ý muốn của Ông. Khi hay
tin Ông chết, các quan Việt-Nam và Pháp tới phúng
điếu đều ngậm ngùi thương tiếc
một công thần với 41 năm công cán suốt 3 triều
đại là:
1.-Vua Minh-Mạng
(1820-1840) tức con thứ ba của vua Gia-Long là Thánh-Tổ
Nguyễn-Phúc-Đảm, thọ 50 tuổi, trị vì 20
năm và có 170 người con.
2.-Vua Thiệu-Trị
(1841-1847) tức Hoàng-TháiTử
của vua Minh-Mạng là Hiến-Tổ Nguyễn-Miên-Tông,
thọ 37 tuổi và trị vì 6 năm.
3.- Vua
Tự-Đức (1847-1883) tức con thứ hai củaVua Thiệu-Trị
với Bà Thái-Hậu Từ-Dũ, quê ở Gia-Định
(Nam Kỳ) là Hoàng-Thái Tử Dực-Tông
Nguyễn-Hồng-Nhậm, thọ 55 tuổi và trị vì 36
năm.
Lúc làm
Kinh-Lược trấn nhậm tỉnh Vĩnh-Long Ông có
lập miếu thờ Đức Khổng Tử do Ông
Nguyễn-Thông trông nom, khởi công năm Giáp Tý 1864
đến cuối năm 1866 hoàn-thành, đồng thời
cất tòaVăn-Xương-Các chung trong đất Văn
-Thánh tại làng Long-Hồ để khi rảnh rổi
việc quan, Ông cùng các bạn văn nho họp luận bàn
thi phú. Tòa Văn Xương-Các đến nay vẫn còn
uy-nghiêm dưới nhiều cây cổ thụ trồng
từ xa xưa, cách chợ Vĩnh-Long khoảng 3 cây số. Bên trong có
thờ chân dung Ông và bài-vị Ông Võ-Trường-Toản.
Riêng tại Miểu Quốc-Công nằm trong thị xã
Vĩnh-Long cũng có thờ Ông, hai nơi này lúc nào khói
hương cũng nghi ngút. Ngoài ra, năm 1966, chánh-quyền
Tỉnh và thân hào nhân sĩ trước kia, cũng dựng
tượng đồng bán thân Ông đặt tại công
viên tại chợ Vĩnh-Long. Bởi vì, Ông là vị quan
thanh-liêm, cương trực, hết lòng phục mệnh
các vì vua và lo cho đất nước, dân tộc, lúc
bấy giờ, cho nên Ông bị hành-động gian-xảo
của giặc Pháp ở thế thượng phong về
quân-sự cùng văn-minh tân kỳ của giặc Pháp
(bởi vì, Ông đã thấy tận mắt khi cầm
đầu sứ bộ sang Pháp), lúc nào cũng muốn
cưỡng chiếm 6 tỉnh Nam-Kỳ cho bằng
được. Dù ai, ngoài Ông ra cũng không tránh khỏi
kết-quả thiệt-thòi của giặc Pháp đưa
đến. Vì thế, Ông đành thất thủ thành và
đưa đến cái chết can-đảm. Trong khi
đó, có tin từ triều đình Huế gởi vào : Bãi
chức hàm của Ông, đục tên trên bia tiến-sĩ
ngoài Huế để làm gương, cuối cùng
đến năm 1885 vua Đồng-Khánh mới phục
hồi chức hàm và đến năm 1924 vua
Khải-Định mới phong thần cho Ông. Hơn
nữa, sau khi Ông chết, hai
con của Ông là: Phan-Tôn và Phan-Liêm đã nghe
lời Ông căn dặn trước khi chết là : "không ra làm quan
với Pháp" mà còn đứng lên chống Pháp. Vì vậy,
khi Ông qua đời không những thân bằng quyến
thuộc, các quan lớn nhỏ Việt-Pháp cùng đồng
bào miền lục tỉnh đến nơi tiễn
đưa Ông rất long-trọng và luyến tiếc
một nhân tài không thể cưỡng lại tình thế
lúc bấy giờ.
Riêng Ông
Nguyễn-Đình-Chiểu làm bài thơ điếu Ông,
bằng chữ Nôm như sau:
Non nước tan tành hệ bởi đâu?
Dàu dàu
mây bạc (trắng) cõi Ngao châu,
Ba
triều công cán vài hàng sớ,
Sáu
tỉnh cang (cương) thường một gánh thâu,
Ải
(Trạm) Bắc ngày trông (chiều) tin nhạn
(điệp) vắng,
Thành
Nam đêm quạnh tiếng quyên sầu,
Minh
tinh (sinh) chín chữ (*) lòng son tạc,
Trời
đất từ đây mặc gió thu.
(*) Ông
Phan-Thanh-Giản viết di bút để lại cho các con
cháu có 11 chữ là : Đại Nam hải nhai lão thư sinh
tánh Phan chi cửu có nghĩa là "Linh cữu của
người học trò già họ Phan ở bãi biển
nước Đại-Nam". Như vậy, chữ
"cữu" là cuối chữ của câu 11 chữ do Ông
Phan-Thanh-Giản viết rớt đúng chữ "linh"
thì rất đúng quy tắc.
Bởi vì, theo
quy-tắc thời xưa, khi viết minh tinh (tấm triệu) hay mộ bia
bắt buộc phải chú ý đến 4 chữ : Quỷ,
Khốc, Linh, Thính và phải tôn trọng quy tắc: "Nam
Linh, Nữ Tính, bất dụng Quỷ Khốc nhị
tự". Nhưng tại sao Ông Nguyễn-Đình-Chiểu
là đồ nho lại viết 9 chữ và cắt bỏ hai
chữ Đại-Nam có ý
nghĩa gì ? Theo thiển
nghĩ lúc bấy giờ ở Nam Kỳ lục
tỉnh đã bị giặc Pháp chiếm, thì không thể dùng chữ Đại-Nam
mà phải cắt bỏ để trách khéo Ông
Phan-Thanh-Giản? và có ý để Ông Phan-Thanh-Giản thành
Quỷ sau khi chết, bởi để mất Nam Kỳ.
Hơn nữa,
câu thơ chót Ông Nguyễn-Đình-Chiểu kết bằng
chữ gió thu (tức gió mùa Thu, theo ngũ-hành thuộc Kim,
theo phương hướng thuộc hướng Tây) ý nói
lục tỉnh Nam Kỳ giờ đây do giặc Pháp cai
trị là để gói trọn sự thống hận
đổ trút hết tội tình lên Ông Phan-Thanh-Giản,
giống như hành động vua Tự-Đức
vậy.
Xin xem bảng
kê dưới đây sẽ thấy rõ hơn :
Quỷ Khốc Linh Thính Quỷ Khốc Linh Thính Quỷ Khốc Linh
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11
Đại Nam hải nhai lão thơ sanh tánh Phan chi cữu
1 2 3 4 5 6 7 8 9
Quỷ Khốc Linh Thính Quỷ Khốc Linh Thính Quỷ
Ngoài ra, Ông
Nguyễn-Đình-Chiểu không dừng ở đây, lại
làm thêm bài thơ điếu Ông Phan-Thanh-Giản bằng
chữ Hán, không kém sự phiền giận của Ông. Xin
trích dẫn như sau :
"Bỉnh
tiết tằng lao sinh Phú Bật,
Tận trung hà hận tử
Trương Tuần,
Hữu thiên lục tỉnh tồn
vong sự,
Nam đắc thung dung tựu
nghĩa thần..."
Với 4 câu
thơ trên Ông Nguyễn-Đình-Chiểu, mượn Ông
Phú-Bật ở đời nhà Tống được vua
cử đi sứ để thuyết phục
được giặc Khiết-Đan và lấy lại
được đất cho nhà Tống, còn Ông
Phan-Thanh-Giản cũng được cử đi sứ,
nhưng không thành công. Riêng Ông Trương-Tuần ở
đời nhà Đường giữ thành Tuy Dương,
chống giặc An-Lộc-Sơn, đã chiến
đấu đến cuối cùng, thành mất Ông
Trương Tuần chết theo thành, còn Ông
Phan-Thanh-Giản không theo gương người xưa,
chết tức khắc theo thành?. Vì thế, việc còn
mất lục tỉnh, còn có trời. Nhưng, Ông
Phan-Thanh-Giản muốn ung dung làm thần (tựu nghĩa
thần) thì thật khó lắm thay! Quả thật, Ông
Nguyễn-Đình-Chiểu, là con người vì yêu
nước nồng-nàn,
cho nên
việc mất lục
tỉnh Nam-Kỳ làm Ông tức giận tột cùng. Vì thế
khi Ông Phan-Thanh-Giản chết, Ông làm hai bài điếu
để hờn giận, căm thù thật đáng sợ
hơn là thương tiếc Ông Phan-Thanh-Giản lâm vào tình
trạng tiến thối lưỡng nan lúc bấy giờ.
Nguồn: Tìm
Hiểu Các Danh Nhân của Nguyễn Phú Thứ (trang 65-trang 84)